Do literate women make better mothers?: Phụ nữ trí thức làm mẹ có tốt hơn không?

 


A


Children in developing countries are healthier and more likely to survive past the age of five when their mothers can read and write.
Trẻ em ở các nước phát triển khỏe mạnh hơn và dễ sống sót qua tuổi lên 5 khi mẹ của chúng biết đọc biết viết.

Experts In public health accepted this idea decades ago, but until now no one has been able to show that a woman's ability to read in Itself Improves her children’s chances of survival.
Hàng chục năm trước, các chuyên gia trong lĩnh vực y tế công cộng đã chấp nhận ý kiến này nhưng cho đến nay chưa ai có thể chứng minh phụ nữ có khả năng đọc viết có thể cải thiện cơ hội sống sót của con cái họ cả.

B

Most literate women learnt to read In primary school, and the fact that a woman has had an education may simply indicate her family’s wealth or that It values Its children more highly.
Hầu hết phụ nữ có văn hóa học đọc ở tiểu học, và thực tế học vấn của những phụ nữ này dễ dàng cho thấy sự thịnh vượng của gia đình họ hoặc mang đến nhiều lợi ích hơn cho con họ.

Now a long-term study carried out In Nicaragua has eliminated these factors by showing that teaching reading to poor adult women, who would otherwise have remained Illiterate, has a direct effect on their children’s health and survival.
Một nghiên cứu lâu năm được thực hiện ở Nicaragua đã loại bỏ những nhân tố này và chỉ ra việc dạy đọc cho phụ nữ nghèo thất học lâu năm, có hiệu quả trực tiếp đối với sức khỏe và sự sống còn của con họ.

C

In 1979, the government of Nicaragua established a number of social programmes, including a National Literacy Crusade.
Năm 1979, chính phủ Nicaragua lập một số chương trình xã hội, bao gồm chương trình Quốc gia Nỗ lực Xóa mù chữ.

By 1985, about 300,000 Illiterate adults from all over the country, many of whom had never attended primary school, had learnt how to read, write and use numbers.
Năm 1985, có khoảng 300,000 ngàn người trưởng thành bị mù chữ ở nước này, trong đó nhiều người chưa từng học tiểu học hay học đọc, viết và học tính toán.

D

During this period, researchers from the Liverpool School of Tropical Medicine, the Central American Institute of Health In Nicaragua, the National Autonomous University of Nicaragua and the Costa Rican Institute of Health Interviewed nearly 3,000 women, some of whom had learnt to read as children, some during the literacy crusade and some who had never learnt at all.
Trong thời gian này, các nhà nghiên cứu từ trường Y Nhiệt đới Liverpool, Viện Y tế Trung Mỹ ở Nicaragua, trường ĐH Quốc gia Tự trị Nicaragua và Viện Y học Costa Rica đã phỏng vấn gần 3,000 phụ nữ, trong đó một số người đã từng học đọc khi còn nhỏ, một số đang nỗ lực thoát thất học và một số chưa từng đi học.

The women were asked how many children they had given birth to and how many of them had died In Infancy.
Họ được hỏi về số con họ sinh ra và số con chết khi còn nhỏ.

The research teams also examined the surviving children to find out how well-nourished they were.
Nhóm nghiên cứu cũng xem xét những đứa trẻ sống sót để tìm hiểu chúng được nuôi dưỡng tốt ở mức độ nào.

E

The Investigators' findings were striking.
Kết quả của các tổ chức nghiên cứu trên gây chấn động.

In the late 1970s, the infant mortality rate for the children of Illiterate mothers was around 110 deaths per thousand live births.
Vào cuối thập kỉ 70 của thế kỷ 19, tỉ lệ trẻ sơ sinh chết là con của các bà mẹ thất học vào khoảng 110/1000 trẻ.

At this point In their lives, those mothers who later went on to learn to read had a similar level Of child mortality (105/1000).
Cũng thời điểm đó, những bà mẹ bắt đầu đi học tại một thời điểm nào đó trong đời, có tỉ lệ con chết chỉ là 105/ 1000 trẻ.

For women educated in primary school, however, the Infant mortality rate was significantly lower, at 80 per thousand.
Tuy nhiên, đối với những phụ nữ đã qua tiểu học, tỉ lệ con chết thấp hơn đáng kể, chỉ 80 trẻ/ 1000 trẻ.

F

In 1985, after the National Literacy Crusade had ended, the infant mortality figures for those who remained illiterate and for those educated In primary school remained moreor less unchanged.
Vào năm 1985, sau khi chương trình Quốc gia Nỗ lực Xóa mù chữ ở Nicaragua kết thúc, số trẻ sơ sinh tử vong được sinh ra từ các bà mẹ mù chữ và trình độ tiểu học duy trì ở mức không thay đổi.

For those women who learnt to read through the campaign, the infant mortality rate was 84 per thousand, an impressive 21 points lower than for those women who were still Illiterate.
Đối với những phụ nữ được học đọc qua chiến dịch, tỉ lệ con chết khi còn nhỏ là 84/ 1000 trẻ, giảm 21 trẻ, một con số ấn tượng, thấp hơn so với tỉ lệ con chết của các mẹ mù chữ.

The children of the newly-literate mothers were also better nourished than those of women who could not read.
Con cái của các bà mẹ biết đọc viết cũng được nuôi dưỡng tốt hơn so với những mẹ không được học hành.

G

Why are the children of literate mothers better off? According to Peter Sandiford of the Liverpool School of Tropical Medicine, no one Knows for certain.
Vì sao con của các bà mẹ có học có cuộc sống tốt hơn? Theo nhà nghiên cứu Peter Sandiford của trường Y Nhiệt đới Liverpool, không ai biết lý do chính xác.

Child health was not on the curriculum during the women’s lessons, so fie and his colleagues are looking at other factors.
Sức khỏe của trẻ không nằm trong chương trình đào tạo các bà mẹ, vì vậy ông và các đồng nghiệp đang xem xét các yếu tố khác.

They are working with the same group of 3,000 women, to try to find out whether reading mothers make better use of hospitals and clinics, opt for smaller families, exert more control at home, learn modern childcare techniques more quickly, or whether they merely have more respect for themselves and their children.
Họ đang làm việc lại với nhóm 3,000 phụ nữ trước đó, nhằm tìm ra liệu các bà mẹ biết đọc viết có biết tận dụng tốt bệnh viện và phòng khám, lựa chọn sinh ít con, sử dụng nhiều quyền lực hơn trong gia đình, học những kỹ thuật chăm sóc trẻ nhanh hơn hay chỉ đơn giản họ biết tự chăm sóc bản thân và con cái họ hơn.

H

The Nicaraguan study may have important implications for governments and aid agencies that need to know where to direct their resources.
Nghiên cứu của Nicaragua có thể đưa ra chỉ dẫn quan trọng cho các chính phủ và tổ chức viện trợ để họ biết cần hướng các nguồn trực tiếp đến đâu.

Sandiford says that there is increasing evidence that female education, at any age, is "an important health intervention in its own right’.
Ông Sandiford nói ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, giáo dục cho phụ nữ ở bất kỳ lứa tuổi nào “bản thân nó là một can thiệp y tế quan trọng”.

The results of the study lend support to the World Bank's recommendation that education budgets in developing countries should be increased, not just to help their economies, but also to improve child health.
Kết quả nghiên cứu đã hỗ trợ cho sáng kiến của Ngân hàng Thế giới về việc ngân sách dành cho giáo dục ở các nước đang phát triển nên được tăng lên, không chỉ phát triển kinh tế mà còn cải thiển sức khỏe trẻ em của chính các quốc gia đó.

'We’ve known for a long time that maternal education is important,’ says John Cleland of the London School of Hygiene and Tropical Medicine.
Từ lâu chúng ta đã biết, giáo dục cho phụ nữ mang thai là quan trọng”, nhà nghiên cứu John Cleland của Trường Y Nhiệt đới và Dịch tễ London nói.

‘But we thought that even if we started educating girls today, we'd have to wait a generation for the pay off.
“Nhưng chúng ta đều nghĩ: ngay cả khi bắt đầu giáo dục bé gái hôm nay thì chúng ta vẫn phải đợi nhiều năm mới có kết quả.

The Nicaraguan study suggests we may be able to bypass that.
Nghiên cứu của Nicaragua gợi ý chúng ta nên bỏ qua quan niệm đó.

I

' Cleland warns that the Nicaraguan crusade was special in many ways, and similar campaigns elsewhere might not work as well.
Cleland cảnh báo, nỗ lực của Nicaragua đặc biệt theo nhiều cách nhưng những chiến dịch tương tự ở đâu đó lại không hoạt động hiệu quả.

It is notoriously difficult to teach adults skills that do not have an immediate impact on their everyday lives, and many literacy campaigns in other countries have been much less successful.
Thực sự khó để dạy người trưởng thành những kỹ năng không mang lại tác động tức thời cho cuộc sống hàng ngày của họ, và nhiều chương trình dạy đọc viết ở các quốc gia khác đã tỏ ra kém hiệu quả.

'The crusade was part of a larger effort to bring a better life to the people,’ says Cleland.
Ông nói tiếp “Chương trình của Nicaragua là một phần trong nỗ lực lớn hơn nhằm mang lại cuộc sống tốt hơn cho các bà mẹ”.

Replicating these conditions in other countries will be a major challenge for development workers.
Nhân rộng các điều kiện đó ở các quốc gia khác sẽ là một thách thức lớn đối với những người làm công tác phát triển cộng đồng.

NGỌC THU

ARTCANDY SHOP NGỌC THU -     Trên   bước   đường   THÀNH   CÔNG , không   có   dấu   chân   của   những   kẻ   LƯỜI   BIẾNG . ...