Nhiếp ảnh có phải là một môn nghệ thuật ?

Is Photography art?


Nhiếp ảnh có phải là một môn nghệ thuật ?


This may seem a pointless question today
Thời nay thì có vẻ như đây là câu hỏi vô nghĩa



This may seem a pointless question today
Thời nay thì có vẻ như đây là câu hỏi vô nghĩa

Surrounded as we are by thousands of photographs, most of us take for granted that, in addition to supplying information and seducing customers, camera images also serve as decoration, afford spiritual enrichment, and provide significant insights into the passing scene
Hầu hết chúng ta đều chắc rằng hàng ngàn bức ảnh chung quanh ta là để cung cấp thông tin và thu hút sự chú ý của khách hàng, các ảnh chụp còn được xem như món đồ trang trí, làm phong phú thêm về mặt tâm hồn, và cung cấp những thấu hiểu to lớn về những gì đang diễn ra

But in the decades following the discovery of photography, this question reflected the search for ways to fit the mechanical medium into the traditional schemes of artistic expression
Nhưng trong hàng thập kỷ kể từ khi phát hiện ra nhiếp ảnh, câu hỏi này phản ánh sự tìm kiếm các cách để áp dụng môi trường cơ học vào trong lược đồ truyền thống về biểu cảm nghệ thuật.

The much-publicized pronouncement by painter Paul Delaroche that the daguerreotype* signalled the end of painting is perplexing because this clever artist also forecast the usefulness of the medium for graphic artists in a letter written in 1839.
Hoạ sĩ Paul Delaroche đã công bố rộng rãi trong một bức thư viết vào năm 1839, rằng phép tạo hình Dague đã báo hiệu sự kết thúc của hội hoạ đã gây rúng động, bởi vì nhà họa sĩ tài giỏi này cũng dự báo sự hữu dụng của môi trường cơ học đối với nghệ sĩ đồ hoạ

Nevertheless, it is symptomatic of the swing between the outright rejection and qualified acceptance of the medium that was fairly typical of the artistic establishment
Tuy nhiên, nó là triệu chứng lơ lửng giữa việc từ chối hoàn toàn và chấp nhận bảo lưu môi trường cơ học, điều này tương đối khá đặc trưng trong việc kiến lập nghệ thuật.

Discussion of the role of photography in art was especially spirited in France, where the internal policies of the time had created a large pool of artists, but it was also taken up by important voices in England
Cuộc thảo luận về vai trò của nhiếp ảnh đã đặc biệt được cổ vũ tại Pháp, nơi mà các chính sách nội bộ đã tạo nên các nhóm nghệ sĩ thời đó, và nó cũng đưa ra những tiếng nói quan trọng tại nước Anh.

In both countries, public interest in this topic was a reflection of the belief that national stature and achievement in the arts were related
Ở cả hai nước, sự quan tâm của công chúng đến chủ đề này là phản ánh niềm tin rằng sự mức phát triển của quốc gia có liên quan đến thành tựu trong nghệ thuật.

From the maze of conflicting statements and heated articles on the subject, three main positions about the potential of camera art emerged.
Từ những tuyên bố mâu thuẫn và các bài viết nóng về chủ đề này, thì đã nổi bật lên ba điểm chủ yếu về tiềm năng nhiếp ảnh.

The simplest, entertained by many painters and a section of the public, was that photographs should not be considered ‘art’ because they were made with a mechanical device and by physical and chemical phenomena instead of by human hand and spirit; to some, camera images seemed to have more in common with fabric produced by machinery in a millthan with handmade creations fired by inspiration.
Điểm đơn giản nhất, nhiều hoạ sĩ và một bộ phận công chúng đã được thưởng thức các bức ảnh chụp nhưng chúng không được đánh giá là tác phẩm nghệ thuật bởi vì chúng được tạo ra từ thiết bị cơ học và các hiện tượng vật lý và hoá học thay vì từ bàn tay và trí tuệ của con người, một vài ảnh chụp dường như có nhiều đặc điểm gần như thứ được sản xuất hàng loạt hơn là tác phẩm thủ công bùng cháy đầy sự cảm hứng

The second widely held view, shared by painters, some photographers, and some critics, was that photographs would be useful to art but should not be considered equal in creativeness to drawing and painting.
Điểm thứ hai đã được các hoạ sĩ, một số nhà nhiếp ảnh, và một vài nhà phê bình nêu ra rằng những bức ảnh tuy hữu ích đối với nghệ thuật nhưng không nên đánh giá ngang hàng về mặt sáng tạo giữa tranh vẽ và hội hoạ.

Lastly, by assuming that the process was comparable to other techniques such as etching and lithography, a fair number of individuals realized that camera images were or could be as significant as handmade works of art and that they might have a positive influence on the arts and on culture in general.
Điểm cuối cùng, giả định rằng quá trình chụp có thể so sánh được với các kỹ thuật khác như là khắc ăn mòn, khắc điện tử, có một số cá nhân nhận ra rằng các ảnh chụp có thể có ý nghĩa như các tác phẩm nghệ thuật thủ công và rằng chúng có thể có ảnh hưởng tích cực đến nghệ thuật và văn hoá nói chung.

Artists reacted to photography in various ways.
Nhiều nghệ sĩ phản ứng với nhiếp ảnh theo nhiều cách khác nhau.

Many portrait painters - miniaturists in particular - who realized that photography represented the ‘handwriting on the wall’ became involved with daguerreotyping or paper photography in an effort to save their careers; some incorporated it with painting, while others renounced painting altogether.
Nhiều họa sĩ chân dung - những họa sĩ tiểu họa nói riêng - đã nhận ra rằng nhiếp ảnh đại diện cho 'chữ viết tay trên tường' đã bị hút vào việc tạo hình Daguer hoặc nhiếp ảnh giấy với nỗ lực để cứu lấy sự nghiệp của họ; một số kết hợp nó hội hoạ, một số khác loại bỏ hội hoạ hoàn toàn.

Still other painters, the most prominent among them the French painter, Jean- Auguste-Dominique Ingres, began almost immediately to use photography to make a record of their own output and also to provide themselves with source material for poses and backgrounds,vigorously denying at the same time its influence on their vision or its claims as art.
Các họa sỹ khác, nổi bật nhất là họa sĩ người Pháp Jean-Auguste-Dominique Ingres bắt đầu gần như ngay lập tức sử dụng nhiếp ảnh để ghi lại các sản phẩm của chính mình và cũng cung cấp cho họ các tư liệu nguồn cho các tư thế và bối cảnh chụp, mạnh mẽ phủ nhận đồng thời sự ảnh hưởng của ảnh lên sự tưởng tượng của họ hay là các tuyên bố về ảnh như là nghệ thuật.

The views that photographs might be worthwhile to artists was enunciated in considerable detail by Lacan and Francis Wey.
Quan điểm cho rằng các bức ảnh có thể là giá trị đối với các nghệ sỹ được Lacan và Francis Wey miêu tả chi tiết về chúng.

The latter, an art and literary critic, who eventually recognised that camera images could be inspired as well as informative, suggested that they would lead to greater naturalness in the graphic depiction of anatomy, clothing, likeness, expression, and landscape.
Người sau (tức ông Francis Wey), một nhà phê bình văn học và nghệ thuật rốt cuộc nhận ra rằng, bên cạnh có tính chất mang thông tin, ảnh chụp còn có thể được truyền cảm hứng, ông đã cho rằng ảnh chụp mang sự tự nhiên hơn trong các mô tả đồ họa về giải phẫu học, trang phục, chân dung, biểu cảm và cảnh quan.

By studying photographs, true artists, he claimed, would be relieved of menial tasks and become free to devote themselves to the more important spiritual aspects of their work.
Bằng cách nghiên cứu các bức ảnh, ông cho biết các nghệ sĩ chân chính sẽ được giải phóng khỏi các công việc nhân bản và trở nên tự do để cống hiến nhiều hơn về phần hồn trong sáng tác của họ.

Wey left unstated what the incompetent artist might do as an alternative, but according to the influential French critic and poet Charles Baudelaire, writing in response to an exhibition of photography in 1859, lazy and untalented painters would become photographers.
Wey đã để lại những điều chưa công bố rằng các nghệ sỹ thiếu năng lực có thể làm nhiếp ảnh như một sự lựa chọn thay thế, tuy nhiên, theo nhà phê bình có tầm ảnh hưởng cũng là nhà thơ người Pháp Charles Baudelaire, viết thư hồi đáp cho một cuộc triển lãm nhiếp ảnh vào năm 1859 rằng những hoạ sĩ lười biếng và không có tài năng nên trở thành nhiếp ảnh gia.

Fired by a belief in art as an imaginative embodiment of cultivated ideas and dreams, Baudelaire regarded photography as ‘a very humble servant of art and science’; a medium largely unable to transcend ‘external reality’.
Baudelaire bùng cháy bởi niềm tin vào nghệ thuật như là một hiện thân giàu trí tưởng tượng về những ý tưởng và giấc mơ được trau dồi, Baudelaire xem nhiếp ảnh là một " người đầy tớ của nghệ thuật và khoa học rất khiêm tốn", là một phương tiện không thể vượt qua được "thực tế bên ngoài".

For this critic, photography was linked with ‘the great industrial madness’ of the time, which in his eyes exercised disastrous consequences on the spiritual qualities of life and art.
Đối với nhà phê bình này, nhiếp ảnh gắn liền với "sự điên rồ công nghiệp vĩ đại" của thời đại, nó trong mắt ông các hậu quả tai hại đã được rèn trên phẩm chất tinh thần trong cuộc sống và nghệ thuật.

Eugene Delacroix was the most prominent of the French artists who welcomed photography as help-mate but recognized its limitations.
Eugene Delacroix là nghệ sĩ lỗi lạc nhất của Pháp, người đã hoan nghênh nhiếp ảnh làm bạn tình nhưng thừa nhận những hạn chế của nó.

Regretting that ‘such a wonderful invention’ had arrived so late in his lifetime, he still took lessons in daguerreotyping, and both commissioned and collected photographs.
Ông tiếc nuối rằng "một phát minh tuyệt vời" đã đến muộn như vậy trong suốt cuộc đời của ông, ông vẫn tiếp tục các học các bài học về phép tạo hình Daguer và nhiếp ảnh chụp và sưu tập ảnh.

Delacroix’s enthusiasm for the medium can be sensed in a journal entry noting that if photographs were used as they should be, an artist might ‘raise himself to heights that we do not yet know’.
Sự nhiệt tình của Delacroix đối với phương tiện có thể được cảm nhận trong một bài viết trong tạp chí ghi nhận rằng nếu các bức ảnh được sử dụng đúng như mong đợi, một người nghệ sỹ có thể "tự nâng bản thân mình lên tầm cao mà chúng ta vẫn chưa biết đến".

The question of whether the photograph was document or art aroused interest in England also.
Câu hỏi về việc liệu bức ảnh đó có phải là tư liệu hay nghệ thuật đáng quan tâm nổi bật của người Anh.

The most important statement on this matter was an unsigned article that concluded that while photography had a role to play, it should not be ‘constrained’ into ‘competition’ with art; a more stringent viewpoint led critic Philip Gilbert Hamerton to dismiss camera images as ‘narrow in range, emphatic in assertion, telling one truth for ten falsehoods’.
Tuyên bố quan trọng nhất về vấn đề này là một bài báo không có ghi tác giả đã kết luận rằng trong khi nhiếp ảnh có một vai trò để giải trí, thì nó không nên bị "ép buộc" vào "cuộc thi" nghệ thuật; một quan điểm khắt khe hơn đã khiến nhà phê bình Philip Gilbert Hamerton chối bỏ ảnh chụp như là "hẹp trong phạm vi, nhấn mạnh trong sự khẳng định, nói một sự thật cho mười sai lầm".

These writers reflected the opposition of a section of the cultural elite in England and France to the ‘cheapening of art’ which the growing acceptance and purchase of camera pictures by the middle class represented.
Những nhà văn phản ánh sự chống đối của một bộ phận của giới tinh hoa văn hoá ở Anh và Pháp để "làm giảm giá trị của nghệ thuật" mà sự chấp nhận và sự mua ảnh chụp ngày càng tăng của đại diện các tầng lớp trung lưu.

Technology made photographic images a common sight in the shop windows of Regent Street and Piccadilly in London and the commercial boulevards of Paris.
Công nghệ tạo ra những bức ảnh chụp cận cảnh các ô trưng bày trên đường Regent và Piccadilly ở London và những đại lộ thương mại của Paris.

In London, for example, there were at the time some 130 commercial establishments where portraits, landscapes, and photographic reproductions of works of art could be bought.
Chẳng hạn ở Luân Đôn đã có khoảng 130 trung tâm thương mại bày bán các chân dung, cảnh quan, và các bản sao tác phẩm nhiếp ảnh.

This appeal to the middle class convinced the elite that photographs would foster a desire for realism instead of idealism, even though some critics recognized that the work of individual photographers might display an uplifting style and substance that was consistent with the defining characteristics of art.

Sự hấp dẫn này đối với tầng lớp trung lưu đã thuyết phục tầng lớp ưu tú rằng các bức ảnh sẽ thúc đẩy mong muốn chủ nghĩa hiện thực hơn là chủ nghĩa duy tâm, mặc dù một số nhà phê bình nhận ra rằng công việc của các nhiếp ảnh gia cá nhân có thể thể hiện một phong cách hứng khởi và đa chiều, đúng theo việc xác định các đặc tính của nghệ thuật.

Cáp xuyên Đại Tây Dương

The Transatlantic CableCáp xuyên Đại Tây Dương

Laying the transatlantic cable was the culmination of the unflagging perseverance of one man leading like-minded men, of disparate technical and scientific advances, and of the need for faster communication.
Việc lắp đặt đường dây cáp xuyên Đại Tây Dương là đỉnh cao của sự kiên trì không ngừng của một nhóm người đồng lòng cùng chí hướng, của những tiến bộ khoa học và kỹ thuật khác nhau, và của sự cần thiết trong việc giao tiếp nhanh hơn.

Laying the transatlantic cable was the culmination of the unflagging perseverance of one man leading like-minded men, of disparate technical and scientific advances, and of the need for faster communication.
Việc lắp đặt đường dây cáp xuyên Đại Tây Dương là đỉnh cao của sự kiên trì không ngừng của một nhóm người đồng lòng cùng chí hướng, của những tiến bộ khoa học và kỹ thuật khác nhau, và của sự cần thiết trong việc giao tiếp nhanh hơn.

The first attempts at laying the cable in the 1850s, each of which cost an enormous amount of money, failed utterly.
Những nỗ lực đầu tiên của việc đặt trạm dây cáp là vào những năm 1850, mỗi lần đều tốn một lượng tiền khổng lồ, nhưng lại bị thất bại hoàn toàn.

Yet as technology and science improved, and the need for faster communication increased, perseverance finally paid off.
Tuy nhiên, khi khoa học và công nghệ được cải thiện, và nhu cầu giao tiếp nhanh hơn đã ngày càng tăng, thì sự kiên trì cuối cùng đã được đền đáp.

The man who rallied support and raised money for the transatlantic cable venture was Cyrus Field, a New York businessman, who started the New York, Newfoundland, and London Telegraph Company in 1854.
Người đàn ông đã tập hợp hỗ trợ và quyên góp tiền cho dự án xây dựng cáp xuyên Đại Tây Dương là Cyrus Field, một doanh nhân người New York, người đã bắt đầu công ty New York, Newfoundland và London Telegraph năm 1854.
For the next twelve years, Field raised money and expectations in North America and England for repeated attempts at laying a cable, despite catastrophic cable breaks and a formal inquiry when the first cable stopped working within days.
Trong 12 năm tiếp theo, Field đã gây quỹ, quyên góp tiền và kỳ vọng ở Bắc Mỹ và Anh cho những nỗ lực lặp đi lặp lại trong việc lắp đặt cáp, mặc dù có tình trạng cáp bị đứt nghiêm trọng và một cuộc điều tra chính thức diễn ra khi sợi cáp đầu tiên ngừng hoạt động trong vòng vài ngày.

The scientific and technological advances began with electricity, the study of which was attracting the greatest minds of the age.
Những tiến bộ khoa học và công nghệ được khởi đầu từ điện, nghiên cứu về điện đã thu hút những trí tuệ vĩ đại nhất của thời đại đó.

Samuel Morse invented a code that made it possible to send information over electric wires, and he made the first successful transmission in 1842.
Samuel Morse đã phát minh ra một mã có thể gửi thông tin qua đường điện, và ông đã thực hiện việc truyền tin thành công lần đầu tiên vào năm 1842.

The next year, d’Alameida, a Portuguese engineer, announced the use of gutta-percha, a rubberlike sap from the gutta tree, as an insulation for wires.
Năm tiếp theo, d'Almeida, một kỹ sư người Bồ Đào Nha, đã công bố việc sử dụng gutta-percha (nhựa két), một loại cao su như nhựa cây từ cây gutta, để làm vật liệu cách nhiệt cho dây điện.

Thus, two of the requisites for an underwater cable were met.
Vì vậy, hai trong số các điều kiện tiên quyết cho một dây cáp dưới nước đã được đáp ứng.

In the next several years, telegraph cables were laid in Atlantic Canada, across the English Channel and around Europe, and across the United States.
Trong những năm tiếp theo, các loại cáp điện báo được đặt ở phần biển Đại Tây Dương Canada, qua eo biển Anh (~eo biển Manche) khắp châu Âu, và trên khắp nước Mỹ.

In 1857, the company Field founded set out to lay the cable that had taken months and almost a million dollars to make.
Trong năm 1857, công ty của ông Field đã mất hàng tháng trời để lắp đặt cáp và gần một triệu đô la để sản xuất chúng.

The cable was made of 340,000 miles of copper and iron wire and three tons of gutta-percha insulation, too much for one ship to carry.
Sợi cáp được làm bằng 340.000 dặm dây đồng và sắt, và ba tấn nhựa két để cách nhiệt, một khối lượng quá lớn để một con tàu có thể vận chuyển.

The cable was divided between two ships, each towed by another, all four provided by the British and American navies.
Dây cáp được phân chia giữa hai tàu, mỗi tàu được kéo bởi một tàu khác, tất cả bốn tàu do hải quân Anh và Mỹ cung cấp.
After only 255 miles of cable had been laid, the cable stopped transmitting and then snapped, sinking to the depths of the ocean.
Sau khi chỉ 255 dặm của cáp đã được đặt xuống biển, sợi cáp ngừng truyền và sau đó bị gãy, rồi bị chìm tới đáy của đại dương.

The second attempt was made in 1858, beginning at the midpoint of the Atlantic, from which each ship lay cable as she sailed to her home shores.
Một nỗ lực thứ hai được thực hiện vào năm 1858, bắt đầu tại điểm giữa của Đại Tây Dương, từ đó mỗi con tàu đặt một dây cáp khi chúng di chuyển về phía bờ biển của mình.

Again, the cable inexplicably stopped working.
Một lần nữa,dây cáp ngừng hoạt động một cách không giải thích được.

They tried again a month later, beginning again from the middle and sailing in opposite directions.
Họ thử lại một tháng sau đó, bắt đầu lại từ giữa và đi theo hướng ngược lại.

This time, success! Queen Victoria sent a message to President Buchanan, and both countries celebrated. Within hours, however, the signal began failing.
Lần này, họ đã thành công! Nữ hoàng Victoria gửi một sứ điệp cho Tổng thống Buchanan, và cả hai quốc gia tổ chức ăn mừng vì sự kiện đó. Tuy nhiên, trong vòng vài giờ, tín hiệu đã bắt đầu yếu dần.

To compensate for the fading transmissions, Whitehouse, the American engineer, transmitted messages at higher voltages, eventually burning out the cable.
Để bù đắp cho việc đường truyền đang dần yếu đi, Whitehouse, một kỹ sư người Mỹ, đã truyền tải những tin nhắn ở điện áp cao hơn, cuối cùng làm cho cáp bị đốt cháy.

Once a hero, Field was now vilified. Work on the transatlantic cable was halted because of the American Civil War.
Đã từng được tôn vinh như một vị anh hùng, lúc bấy giờ Field lại bị phỉ báng. Công việc trên cáp xuyên Đại Tây Dương đã bị dừng lại vì cuộc nội chiến Mỹ.

During the war, the telegraph became indispensable, and enthusiasm for a transatlantic cable mounted.
Trong chiến tranh, điện báo trở thành phương tiện không thể thiếu, và niềm nhiệt huyết dành cho việc đặt cáp xuyên Đại Tây Dương lại dấy lên.

In Scotland, William Thomson, who would later be knighted Lord Kelvin for his work, corrected the design flaws in Whitehouse’s cable.
Tại Scotland, William Thomson, người sau này được phong tước Lord Kelvin cho công trình của mình, đã sửa chữa các lỗi thiết kế trong cáp của Whitehouse.

Kelvin also designed a mirror-galvanometer that could detect weak currents, thus allowing lower voltages and weaker currents to transmit information.
Kelvin cũng đã thiết kế một máy đo điện kế gương có thể phát hiện các dòng điện yếu, do đó cho phép điện áp thấp hơn và các dòng điện yếu hơn có thể truyền tải thông tin.

In 1866, the world’s largest steamship laid Kelvin's new cable, an unqualified success. Field’s perseverance had triumphed in the end.
Năm 1866, tàu hơi nước lớn nhất thế giới đã lắp đặt loại dây cáp mới của Kelvin, dù đó là một thành công về mọi mặt. Sự kiên trì của Field cuối cùng cũng dành được vinh quang.

Merry Christmas 2

 May this festive season sparkle and shine, 
may all of your wishes and dreams come true, 
and may you feel this happiness all year round. 
Merry Christmas!





NGỌC THU

ARTCANDY SHOP NGỌC THU -     Trên   bước   đường   THÀNH   CÔNG , không   có   dấu   chân   của   những   kẻ   LƯỜI   BIẾNG . ...